Trang chủTin tứcHợp đồng và cư trú

Hợp đồng và cư trú

Nội dung biên bản trả phòng và đối chiếu nghĩa vụ thanh toán

Hướng dẫn ghi thời điểm kết thúc và bàn giao, chỉ số, tài sản, tiền thuê và cọc; tách khoản đã thống nhất khỏi khoản còn cần xác minh.

Ảnh minh họa: Nội dung biên bản trả phòng và đối chiếu nghĩa vụ thanh toánNội dung biên bản trả phòng và đối chiếu nghĩa vụ thanh toán
16 phút đọcCập nhật 12/10/2026Ban biên tập Nhà cấp 4

Ngày kết thúc hợp đồng, ngày bàn giao phòng và ngày chốt tiền có thể khác nhau. Biên bản cần ghi riêng hiện trạng, khoản đã xác nhận và việc còn chờ. Mẫu trong bài dành cho cá nhân cho thuê phòng để ở; giao dịch nhà ở thương mại của doanh nghiệp hoặc hợp tác xã cần đối chiếu quy định riêng. [2]

Xác định căn cứ kết thúc thuê trước ngày bàn giao

Trước hết, hai bên cần rõ việc thuê kết thúc do hết hạn, do cùng thỏa thuận hay do một bên thực hiện quyền chấm dứt. Điều 171 Luật Nhà ở phân biệt các trường hợp chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở không thuộc tài sản công. Thỏa thuận chấm dứt là một trường hợp riêng. Vì vậy, không nên lấy việc đã tìm được phòng mới hoặc đã nhắn ngày chuyển đi để mặc nhiên kết luận toàn bộ nghĩa vụ ở phòng cũ đã hết. [2]

Các điểm chính trong bàiNội dung cần xem
  1. Xác định căn cứ kết thúc thuê trước ngày bàn giaoTrước hết, hai bên cần rõ việc thuê kết thúc do hết hạn, do cùng thỏa thuận hay do một bên thực hiện quyền chấm dứt. Điều 171 Luật Nhà ở phân biệt các trường hợp chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở không thuộc tài…
  2. Người nhận chìa khóa chưa chắc được quyết toán tiềnNgười ký nên đúng là bên trong hợp đồng hoặc người có căn cứ đại diện phù hợp. Với dãy trọ có người quản lý, cần làm rõ người đó được nhận phòng, xác nhận hiện trạng, chốt tiền hay thực hiện cả ba. Việc thườ…
  3. Ghi nhận phòng đã giao cùng hiện trạng thực tếPhần bàn giao cần xác định đúng địa chỉ, mã phòng, thời gian và những thứ đã nhận lại. Với chìa khóa, thẻ cổng hoặc điều khiển, ghi số lượng và loại tương ứng. Nếu còn một chiếc chìa khóa hoặc một món đồ chư…
  4. Chốt ranh giới điện nước vào thời điểm giao phòngGhi chỉ số cuối của đúng đồng hồ điện và nước, đơn vị, ngày giờ, mã hoặc vị trí nhận diện. Ảnh cần đọc được và gắn với phòng tương ứng. Nếu đồng hồ dùng chung, cần ghi rõ cách xác định phần của phòng theo că…

Tóm lược các đoạn trong bài. Mở từng mục để đọc căn cứ, điều kiện và cách xử lý đầy đủ.

Nếu đang xin nghỉ trước hạn, cần chốt thêm việc chủ nhà có đồng ý không, tiền thuê tính đến ngày nào và những hậu quả tài chính nào được thống nhất. Nếu là đơn phương chấm dứt, phải đối chiếu căn cứ cùng quy định thông báo áp dụng. Một câu báo trước một số ngày không tự tạo quyền nghỉ trong mọi tình huống. Biên bản bàn giao cũng không tự chữa được một việc chấm dứt vốn còn đang tranh chấp.

Giả sử hai bên đồng ý kết thúc thuê phòng P03 vào ngày 10/10/2026, tiền thuê đã được thống nhất tính đến hết ngày đó, và hẹn bàn giao lúc 16 giờ. Ba thông tin nên xuất hiện rõ. Nếu người thuê chỉ chuyển đồ đi ngày 9 nhưng vẫn giữ chìa khóa, đừng tự đổi mốc bàn giao thành ngày 9. Nếu chủ nhà nhận lại phòng sớm, cũng cần ghi nhận việc đó thay vì giữ một ngày mẫu không đúng thực tế.

Các ngày, số tiền và tên gọi P03 trong bài đều là giả định để minh họa. Khi dùng vào hồ sơ thật, phải thay bằng dữ kiện đã được kiểm và thỏa thuận phù hợp. Một bản viết ngắn nhưng đúng sự việc có giá trị sử dụng cao hơn mẫu dài với nhiều câu xác nhận mà hai bên chưa thực hiện.

Người nhận chìa khóa chưa chắc được quyết toán tiền

Người ký nên đúng là bên trong hợp đồng hoặc người có căn cứ đại diện phù hợp. Với dãy trọ có người quản lý, cần làm rõ người đó được nhận phòng, xác nhận hiện trạng, chốt tiền hay thực hiện cả ba. Việc thường ngày thu hộ tiền hoặc mở cổng không tự trả lời toàn bộ phạm vi mà chủ nhà đã giao.

Người thuê cũng cần kiểm tra cách ký nếu hợp đồng có nhiều bên thuê. Một người mang chìa khóa đến không mặc nhiên được thay tất cả người còn lại thỏa thuận miễn nghĩa vụ hoặc nhận toàn bộ tiền cọc. Nếu có đại diện, ghi rõ tư cách và căn cứ đại diện trong phần liên quan. Những điểm chưa rõ nên được làm rõ trước khi tiền được chuyển hoặc một nghĩa vụ được xác nhận đã xong.

Có thể tách người trực tiếp kiểm tra hiện trạng với người xác nhận quyết toán. Trong trường hợp đó, biên bản cần nói ai ghi nhận việc gì và nội dung nào còn chờ người có thẩm quyền xác nhận. Đừng để chữ ký của người chứng kiến bị diễn đạt thành cam kết thanh toán của chủ nhà.

Khi tên người nhận tiền khác người có quyền nhận theo hồ sơ, nên xác nhận chỉ định nhận tiền phù hợp trước khi chuyển. Giữ thông tin đủ để đối chiếu, nhưng không cần gửi toàn bộ giấy tờ cá nhân của các bên vào nhóm chung đông người. Việc quản lý chứng từ phải phục vụ đúng hồ sơ thuê đang kết thúc.

Ghi nhận phòng đã giao cùng hiện trạng thực tế

Phần bàn giao cần xác định đúng địa chỉ, mã phòng, thời gian và những thứ đã nhận lại. Với chìa khóa, thẻ cổng hoặc điều khiển, ghi số lượng và loại tương ứng. Nếu còn một chiếc chìa khóa hoặc một món đồ chưa giao, ghi riêng thay vì đánh dấu đã nhận đủ. Khi có tài sản của người thuê còn trong phòng, cần thống nhất cách xử lý tiếp, không mặc nhiên xem là đồ bỏ.

Đối chiếu hiện trạng với biên bản và ảnh khi nhận phòng. Khoản 1 Điều 482 Bộ luật Dân sự quy định việc trả lại tài sản thuê theo tình trạng khi nhận, có ngoại lệ hao mòn tự nhiên hoặc tình trạng đã thỏa thuận; quy định về yêu cầu bồi thường cũng loại trừ hao mòn tự nhiên. Vì vậy, trả phòng không đồng nghĩa phải biến mọi thiết bị đã sử dụng thành đồ mới. [1]

Ghi nhận nên cụ thể nhưng không tự kết luận nguyên nhân khi chưa rõ. Có thể ghi cánh tủ đóng không khít ở vị trí nào, kèm ảnh đối chiếu, rồi nêu hai bên đã thống nhất hay còn cần kiểm tra. Câu người thuê làm hỏng toàn bộ tủ là một kết luận khác, cần có căn cứ. Tương tự, chỉ nhìn một vết ố chưa đủ để quyết định đó là hao mòn, thấm từ công trình hay hư hỏng thuộc trách nhiệm người sử dụng.

Không cần mở thiết bị điện, thử vận hành đồ đang có dấu hiệu mất an toàn hoặc tự kiểm tra kết cấu để hoàn tất biên bản. Có thể ghi thiết bị đang chờ người có chuyên môn kiểm tra và giữ riêng việc xác định trách nhiệm. Việc ký xác nhận đã thấy hiện trạng không nhất thiết phải bị viết thành đã chấp nhận mọi chi phí sửa chữa.

Chốt ranh giới điện nước vào thời điểm giao phòng

Ghi chỉ số cuối của đúng đồng hồ điện và nước, đơn vị, ngày giờ, mã hoặc vị trí nhận diện. Ảnh cần đọc được và gắn với phòng tương ứng. Nếu đồng hồ dùng chung, cần ghi rõ cách xác định phần của phòng theo căn cứ áp dụng, không tự lấy toàn bộ chênh lệch công tơ tổng làm nghĩa vụ của người vừa trả phòng.

Cần giữ rõ mốc phân chia sử dụng trước và sau bàn giao. Khi phòng đã được nhận để sửa hoặc cho người mới thuê, phần sử dụng sau đó cần được tách trong hồ sơ phù hợp. Nếu không có mốc chốt, người cũ dễ bị hỏi một hóa đơn gồm cả thời gian mình không còn sử dụng, còn chủ nhà cũng thiếu dữ liệu để giải thích.

Hóa đơn chưa phát hành không có nghĩa phải đoán một số tiền rồi ghi đã quyết toán. Hai bên có thể ghi chỉ số đã xác nhận và khoản tiền đang chờ tài liệu. Khi tài liệu đến, đối chiếu đúng khoảng sử dụng cùng cách tính áp dụng. Một khoản ước tính để dự kiến xử lý cần được gọi đúng là ước tính, không biến thành nghĩa vụ cuối cùng chỉ vì đã nhập vào bảng.

Đối với internet, gửi xe hoặc phí khác, kiểm tra kỳ đã thu và điều kiện áp dụng khi kết thúc giữa kỳ. Không mặc định khoản nào cũng chia theo ngày hoặc khoản nào cũng mất trọn tháng. Nếu đã có thỏa thuận điều chỉnh cụ thể, ghi số tiền và phạm vi kỳ để tránh thu thêm lần nữa khi người quản lý khác tiếp nhận hồ sơ.

Mỗi khoản tiền cần có một trạng thái riêng

Một cách đối chiếu dễ dùng là phân biệt khoản đã thanh toán, khoản đã thống nhất nhưng chưa thanh toán, khoản chờ tài liệu và khoản đang tranh chấp. Đây là cách tổ chức thông tin, không phải bốn loại nghĩa vụ do pháp luật đặt tên. Ghi rõ trạng thái giúp hai bên không hiểu khác nhau về cùng một số tiền khi đọc lại.

Với khoản đã thanh toán, ghi số tiền, kỳ, ngày nhận và chứng từ. Với khoản đã thống nhất nhưng chưa trả, ghi bên phải trả, bên nhận, thời hạn và phương thức đã thỏa thuận. Nếu chờ hóa đơn, cần biết đang chờ hóa đơn nào, ai cung cấp và sẽ đối chiếu ra sao. Nếu tranh chấp, ghi yêu cầu của từng bên cùng điểm chưa thống nhất, không đặt một con số tranh chấp vào cột đã khấu trừ.

Không nên dùng một ô còn nợ để chứa tất cả các nhóm trên. Một khoản chủ nhà dự kiến báo giá sửa chưa được người thuê đồng ý khác với tiền thuê đã được đối chiếu và đến hạn. Gộp chúng làm một dễ khiến người ký vô tình xác nhận điều mình chưa xác nhận hoặc người quản lý thu tiếp một khoản đã được xử lý.

Nếu tài liệu đính kèm có nhiều dòng, biên bản nên chỉ rõ tài liệu nào là phần kèm theo và phiên bản nào hai bên đang xác nhận. Khi sửa số tiền, cả hai cần kiểm tra bản đã sửa. Đừng để bản ký ghi một số dư nhưng tệp gửi lại qua tin nhắn lại chứa con số khác.

Tính tiền cọc từ số dư còn lại

Ví dụ, tiền cọc ban đầu là 4.500.000 đồng. Trong thời gian thuê, hai bên đã thống nhất xử lý 300.000 đồng từ khoản cọc và có xác nhận riêng. Số dư cọc trước khi trả phòng là 4.200.000 đồng. Khi quyết toán cuối, cần bắt đầu từ số dư này hoặc bắt đầu từ cọc gốc và ghi khoản 300.000 đồng đúng một lần.

Giả sử đến ngày bàn giao, hai bên đã đối chiếu và đồng ý dùng cọc để thanh toán 650.000 đồng của một khoản điện nước kỳ trước còn thiếu và 120.000 đồng xử lý chìa khóa theo thỏa thuận cụ thể. Tổng hai khoản mới là 770.000 đồng. Lấy 4.200.000 đồng trừ 770.000 đồng, phần còn lại là 3.430.000 đồng.

Con số này chưa phải kết luận số tiền hoàn ngay nếu còn khoản khác cần xử lý theo căn cứ phù hợp. Nhưng nó là một điểm đối chiếu rõ. Không được bắt đầu từ 4.200.000 đồng rồi lại trừ 300.000 đồng đã xử lý trước đó. Cũng không thu riêng 770.000 đồng bằng chuyển khoản rồi vẫn khấu trừ đúng khoản ấy khỏi cọc.

Điều 328 Bộ luật Dân sự quy định cơ chế đặt cọc và hậu quả theo trường hợp cùng thỏa thuận. Việc xử lý cọc phải được xem trong quan hệ cụ thể, không có nghĩa cứ giao chìa khóa là chắc chắn được hoàn toàn bộ hoặc chủ nhà có thể giữ bao nhiêu cũng được. Trong ví dụ, các khoản khấu trừ đều được đặt điều kiện có căn cứ và đã được thống nhất, không phải bảng giá hay quyền giữ cọc chung. [1]

Khoản chờ hóa đơn cần một thỏa thuận có giới hạn

Tiếp tục ví dụ trên, giả sử tiền điện nước của kỳ cuối chưa đủ tài liệu để chốt. Hai bên tự nguyện thống nhất tạm để lại 700.000 đồng trong phần cọc còn 3.430.000 đồng, chỉ để đối chiếu khoản điện nước kỳ cuối đã xác định. Chủ nhà hoàn trước 2.730.000 đồng. Đây là một phương án thỏa thuận minh họa, không phải quyền mặc định được giữ 700.000 đồng hay một tỷ lệ cọc nào đó.

Thỏa thuận cần ghi phạm vi khoản đang chờ, tài liệu sẽ dùng, người cung cấp, ngày dự kiến gửi đối chiếu và thời điểm xử lý phần còn lại. Chẳng hạn, hai bên hẹn gửi tài liệu trước ngày 15/10 và xử lý số dư theo kết quả đã thống nhất vào ngày 17/10/2026. Những ngày này do tình huống đặt ra, không phải thời hạn hoàn cọc do luật quy định cho mọi phòng trọ.

Khi số tiền cuối cùng được xác nhận là 460.000 đồng và hai bên đồng ý xử lý từ khoản tạm để lại, chủ nhà còn hoàn 240.000 đồng. Tổng tiền đã hoàn trong hai lần là 2.970.000 đồng. Có thể kiểm ngược bằng 4.200.000 đồng trừ 650.000 đồng, trừ 120.000 đồng và trừ 460.000 đồng, cũng ra 2.970.000 đồng. Khoản 300.000 đồng cũ không xuất hiện lần nữa trong phép tính từ số dư 4.200.000 đồng.

Nếu tiền cuối kỳ được xác nhận là 860.000 đồng thì cao hơn khoản tạm để lại 160.000 đồng. Việc thanh toán phần chênh cần theo căn cứ và cơ chế đã thỏa thuận, không thể mặc định 700.000 đồng là mức trần trách nhiệm hoặc là khoản được lấy hết dù chi phí thực tế thấp hơn. Nếu đến ngày hẹn vẫn thiếu tài liệu hoặc còn bất đồng, cần ghi nhận và thống nhất bước tiếp theo, không tự biến một khoản chưa rõ thành đã quyết toán.

Những câu minh họa nên ghi đúng việc đã xảy ra

Đoạn xác nhận bàn giao trong tình huống giả định có thể viết như sau. Hai bên xác nhận bên cho thuê đã nhận lại phòng P03 lúc 16 giờ ngày 10/10/2026 cùng hai chìa khóa phòng và một thẻ cổng. Hiện trạng và chỉ số điện nước được ghi tại danh mục đính kèm đã được hai bên đối chiếu. Việc thuê kết thúc theo thỏa thuận ngày 10/10/2026, còn các khoản tại phần quyết toán được xử lý theo nội dung riêng dưới đây.

Đoạn về tiền cần phân biệt việc hứa hoàn với việc đã nhận. Có thể ghi hai bên thống nhất số tiền hoàn trước là 2.730.000 đồng và sẽ thực hiện bằng chuyển khoản vào tài khoản do người có quyền nhận xác nhận. Sau khi tiền thực sự được nhận, bổ sung xác nhận ngày nhận và số tiền. Không ghi người thuê đã nhận đủ ngay khi chỉ mới thống nhất sẽ chuyển.

Với khoản chờ, có thể viết hai bên thống nhất để lại 700.000 đồng từ số dư cọc để đối chiếu riêng điện nước kỳ cuối đến thời điểm bàn giao đã ghi nhận. Khoản này chưa phải số tiền điện nước cuối cùng. Tài liệu, thời điểm đối chiếu, cách thanh toán phần thiếu hoặc hoàn phần thừa được thực hiện theo thỏa thuận ghi kèm, và kết quả sẽ được xác nhận bổ sung.

Đây là những đoạn minh họa để thấy cách diễn đạt trạng thái, không phải mẫu hoàn chỉnh dùng nguyên cho mọi giao dịch. Khi đưa vào văn bản thật, cần có đủ thông tin các bên, căn cứ hợp đồng, nội dung đã thỏa thuận và những mục cụ thể còn lại. Không để một câu cuối trang phủ nhận chính ngoại lệ vừa ghi ở phần trên.

Không đưa khoản tranh chấp vào phần đã khấu trừ

Giả sử chủ nhà yêu cầu thêm 450.000 đồng cho một vết xước, nhưng người thuê cho rằng vết này đã có khi nhận phòng. Khoản đó phải được ghi đúng là đang chưa thống nhất, cùng ảnh hoặc tài liệu cần đối chiếu. Nó không được âm thầm cộng vào 770.000 đồng đã được chấp nhận trong ví dụ rồi trình bày tất cả như một khoản quyết toán hoàn tất.

Điều 378 Bộ luật Dân sự quy định điều kiện bù trừ khi các bên có nghĩa vụ tài sản cùng loại đối với nhau và cùng đến hạn, cùng những giới hạn của luật. Điều 379 liệt kê nghĩa vụ đang có tranh chấp trong các trường hợp không được bù trừ. Vì vậy, không nên coi việc chủ nhà đang giữ cọc là đủ căn cứ để tự tuyên bố mọi yêu cầu tiền của mình đã được bù trừ. [1]

Hai bên có thể ghi riêng việc đã bàn giao phòng và những khoản đã thống nhất, đồng thời giữ rõ nội dung chưa giải quyết. Việc một bên ký xác nhận đã giao đủ chìa khóa cần được viết sao cho không bị nhập làm một với việc chấp nhận khoản bồi thường còn phản đối. Nếu không thể thống nhất cách ghi hoặc tranh chấp đáng kể, nên nhờ người có chuyên môn pháp lý xem hồ sơ trước khi ký phần ảnh hưởng đến quyền của mình.

Một câu không còn bất kỳ khiếu nại nào sau ngày ký cần được cân nhắc theo đúng ý chí thực tế. Nếu còn khoản chờ hóa đơn hoặc đang tranh chấp, đừng giữ nguyên câu ấy chỉ vì mẫu tải về đã có sẵn. Nêu rõ phần nào đã hoàn tất và phần nào còn để xử lý sẽ giúp văn bản nhất quán hơn.

Giữ chứng từ của việc nhận tiền và phần còn chờ

Ảnh lệnh chuyển hoặc màn hình đang xử lý chưa nên được ghi thành tiền đã nhận. Hai bên đối chiếu đúng giao dịch và tài khoản, xác nhận số tiền thực nhận, rồi cập nhật số dư. Nếu trả bằng tiền mặt, nội dung biên nhận cần chỉ rõ khoản tiền đó là hoàn cọc, thanh toán điện nước hay một khoản khác, gắn với hồ sơ phòng tương ứng.

Nếu nhận nhiều lần, ghi mỗi lần và tổng lũy kế. Trong ví dụ, lần đầu 2.730.000 đồng và lần sau 240.000 đồng là hai giao dịch, tổng 2.970.000 đồng. Không lấy tổng lũy kế làm một lần nhận mới. Khi khoản tạm để lại đã được xử lý hết, xác nhận kết quả cuối cùng để hồ sơ không tiếp tục hiển thị còn giữ 700.000 đồng.

Nếu một bên không có mặt, hãy thống nhất lại thời gian hoặc cách thực hiện phù hợp. Đừng để chìa khóa ở một nơi bất kỳ rồi ghi như thể bên kia đã nhận, cũng không tự ký thay. Có thể giữ tin nhắn hẹn, ảnh và tài liệu về việc đã thực hiện, nhưng phải phân biệt ghi nhận một phía với xác nhận chung của hai bên.

Sau cùng, hồ sơ trả phòng nên cho người đọc biết phòng đã được ai nhận vào lúc nào, khoản nào đã trả, khoản nào còn chờ và ai cần làm tiếp. Chủ nhà có thể đã chuyển phòng sang trạng thái trống trong công cụ quản lý, nhưng trạng thái tiền chỉ nên đóng khi đã có căn cứ tương ứng. Với người thuê, giữ một bộ tài liệu nhất quán sẽ giúp việc chuyển đi kết thúc rõ ràng hơn cả về chỗ ở lẫn những khoản còn phải đối chiếu.

BƯỚC TIẾP THEO

Quản lý nhà trọ với Nhà cấp 4

Theo dõi phòng cho thuê, hợp đồng, hóa đơn và công nợ trong cùng một hệ thống.

Xem tính năng Liên hệ
NGUỒN THAM KHẢO

Nguồn tham khảo

Biên soạn Ban biên tập Nhà cấp 4 · Rà soát nguồn 16/09/2026

Bài viết là hướng dẫn vận hành và tổng hợp nguồn trong phạm vi đã nêu, không thay thế tư vấn pháp lý, thuế hoặc kỹ thuật cho hồ sơ cụ thể.

  1. Nguồn 1 · Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật. Đọc đầy đủ các Điều 3, 328, 378, 379, 422, 428, 479 và 482 liên quan đến thỏa thuận, đặt cọc, bù trừ và trả tài sản thuê; kiểm tra thuộc tính hiệu lực ngày 5 tháng 10 năm 2026

    Nguồn được dẫn trong bài · Liên kết được dẫn trong nội dung bài viết.

  2. Nguồn 2 · Luật Nhà ở trong Văn bản hợp nhất 79/VBHN-VPQH ngày 26 tháng 3 năm 2026, bản ký Công báo. Đọc phạm vi tại Điều 1, quy định hợp đồng tại Điều 163, 164 và các Điều 170 đến 172; các trang in 118, 119, 122 đến 124. Bản hợp nhất không tạo một ngày hiệu lực mới cho mọi điều khoản

    Nguồn được dẫn trong bài · Liên kết được dẫn trong nội dung bài viết.