Trang chủTin tứcHợp đồng và cư trú

Hợp đồng và cư trú

Kiểm tra thẩm quyền ký cho thuê nhà có nhiều chủ sở hữu

Hướng dẫn xác minh quyền sở hữu, phạm vi đại diện và sự đồng ý liên quan; đối chiếu người ký, người nhận tiền và hồ sơ giao dịch.

Ảnh minh họa: Kiểm tra thẩm quyền ký cho thuê nhà có nhiều chủ sở hữuKiểm tra thẩm quyền ký cho thuê nhà có nhiều chủ sở hữu
18 phút đọcCập nhật 12/10/2026Ban biên tập Nhà cấp 4

Người dẫn bạn xem phòng nói căn nhà là của gia đình, nhưng hợp đồng chỉ có tên anh ấy. Khi hỏi thêm, bạn biết nhà còn liên quan đến vợ, anh chị em hoặc cha mẹ. Điều cần làm rõ không chỉ là có bao nhiêu người sẽ ký, mà là ai có quyền đối với nhà và người đứng ra giao dịch được quyết định việc gì.

Những người có quyền có thể cùng ký hoặc giao cho người đại diện phù hợp thực hiện. Một hợp đồng có một chữ ký phía cho thuê chưa chắc đã thiếu quyền; nhiều chữ ký cũng chưa chắc giải quyết được nếu người ký không phải người có quyền hoặc phạm vi cho thuê chưa được thống nhất. Cần kiểm tra cả sở hữu, sự đồng ý và căn cứ đại diện. [1] [2]

Các điểm chính trong bàiNội dung cần xem
  1. Bắt đầu từ người có quyền đối với đúng căn nhàCụm nhà của gia đình có thể chỉ nhiều tình huống. Nhà là tài sản chung của vợ chồng, nhà do hai anh em cùng sở hữu hoặc nhà riêng của cha mẹ do con quản lý không có cùng cách xác định quyền. Người đang sinh…
  2. Sở hữu một tỷ lệ không tự chia thành một tầng nhàĐiều 216 Bộ luật Dân sự quy định các chủ sở hữu chung quản lý tài sản theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật quy định khác. Điều 217 quy định về khai thác công dụng, hưởng…
  3. Một tên trên giấy chứng nhận chưa đủ kết luận là tài sản riêngVới vợ chồng, việc giấy chứng nhận chỉ ghi tên chồng hoặc vợ cần được xem cùng nguồn gốc tài sản và chế độ tài sản. Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tài sản chung, đồng thời có những ngoại lệ li…
  4. Nhà chung vợ chồng cần làm rõ sự thống nhất và người đại diệnĐiều 213 Bộ luật Dân sự ghi nhận quyền ngang nhau của vợ chồng đối với tài sản chung và việc thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Khoản 1 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình cũng qu…

Tóm lược các đoạn trong bài. Mở từng mục để đọc căn cứ, điều kiện và cách xử lý đầy đủ.

Bài này tập trung vào nhà ở của cá nhân, các chủ sở hữu thành niên và việc thuê để ở thông thường. Tài sản đang tranh chấp thừa kế, có người chưa thành niên hoặc cần người đại diện đặc biệt phải được xem hồ sơ riêng. Những tình huống và số tiền dưới đây chỉ nhằm giúp đối chiếu, không xác nhận quyền sở hữu của một căn nhà cụ thể.

Bắt đầu từ người có quyền đối với đúng căn nhà

Cụm nhà của gia đình có thể chỉ nhiều tình huống. Nhà là tài sản chung của vợ chồng, nhà do hai anh em cùng sở hữu hoặc nhà riêng của cha mẹ do con quản lý không có cùng cách xác định quyền. Người đang sinh sống, nhận thư hay giữ chìa khóa cũng không tự trở thành chủ sở hữu.

Bộ luật Dân sự phân biệt sở hữu chung theo phần, sở hữu chung hợp nhất, sở hữu của các thành viên gia đình và sở hữu chung của vợ chồng tại các Điều 209, Điều 210, Điều 212, Điều 213. Việc một gia đình có nhiều thành viên không đồng nghĩa tất cả đều sở hữu nhà hoặc mọi người có tên trong thông tin cư trú đều phải ký hợp đồng cho thuê. [1]

Đối chiếu giấy tờ liên quan với đúng nhà, phần nhà và người giao dịch. Nếu có thỏa thuận phân chia, quản lý hoặc giấy tờ xác lập quyền từ thừa kế, cần xem phần liên quan. Không chỉ chụp trang có tên rồi bỏ phần mô tả tài sản hoặc thay đổi đã được ghi nhận ở trang khác.

Sở hữu một tỷ lệ không tự chia thành một tầng nhà

Điều 216 Bộ luật Dân sự quy định các chủ sở hữu chung quản lý tài sản theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật quy định khác. Điều 217 quy định về khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức tương ứng với loại sở hữu và các thỏa thuận liên quan. Cần đọc quyền sử dụng cùng cách quản lý đã được xác lập. [1]

Giả sử một người có phần quyền sở hữu 60% trong căn nhà, người còn lại có 40%. Con số ấy chưa tự chứng minh người thứ nhất được cho thuê toàn bộ tầng trệt hoặc tự chọn sáu trong mười phòng. Phần quyền theo tỷ lệ và phần diện tích sử dụng cụ thể cần được đối chiếu với hồ sơ, thỏa thuận và quy định áp dụng.

Nếu các chủ sở hữu đã thống nhất mỗi người được khai thác một phần nhà, kiểm tra mô tả phần đó và quyền đối với lối đi, sân, đồng hồ hoặc tiện ích dùng chung. Một phòng nằm trong phần được quản lý riêng vẫn có thể cần sử dụng các khu vực chung. Hợp đồng thuê không nên hứa quyền dùng những phần chưa được người có quyền cho phép.

Một tên trên giấy chứng nhận chưa đủ kết luận là tài sản riêng

Với vợ chồng, việc giấy chứng nhận chỉ ghi tên chồng hoặc vợ cần được xem cùng nguồn gốc tài sản và chế độ tài sản. Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tài sản chung, đồng thời có những ngoại lệ liên quan tài sản riêng. Điều 34 dẫn việc giao dịch đối với tài sản chung nhưng giấy chỉ có một tên sang quy định về đại diện tại Điều 26. [3]

Do đó, không nên kết luận người đứng tên luôn có quyền tự quyết mọi việc. Cũng không nên đi theo hướng ngược lại rằng cứ đang kết hôn thì mọi nhà họ có đều là tài sản chung. Nhà có trước hôn nhân, được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có căn cứ khác cần được xem theo quy định và tài liệu thực tế.

Nếu người cho thuê nói nhà riêng của mình, có thể đề nghị làm rõ căn cứ liên quan thay vì chỉ yêu cầu họ nhắc lại cam kết. Nếu có thỏa thuận về chế độ tài sản hoặc việc nhập tài sản riêng vào chung, phải xem tác động của thỏa thuận đó. Người thuê không cần thu thập mọi thông tin đời tư, nhưng cần đủ căn cứ cho giao dịch mình sắp tham gia.

Nhà chung vợ chồng cần làm rõ sự thống nhất và người đại diện

Điều 213 Bộ luật Dân sự ghi nhận quyền ngang nhau của vợ chồng đối với tài sản chung và việc thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Khoản 1 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình cũng quy định những việc này do vợ chồng thỏa thuận. Trọng tâm là ý chí và thẩm quyền thực tế, không chỉ việc ai thường xuyên đi thu tiền. [1] [3]

Hai người có thể cùng tham gia ký, hoặc một người thực hiện trên căn cứ đại diện phù hợp. Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình cho phép vợ chồng ủy quyền cho nhau đối với những giao dịch phải có sự đồng ý của cả hai theo quy định. Cần kiểm tra nội dung và hình thức phù hợp với giao dịch cụ thể. [3]

Trong thực hành, nên thể hiện rõ sự đồng ý cho thuê và phạm vi người đứng ra ký được thực hiện để giữ căn cứ đối chiếu. Không nên chỉ dùng một câu vợ tôi biết rồi làm toàn bộ chứng minh. Nhưng cũng không lấy số chữ ký trên trang cuối làm tiêu chí duy nhất để kết luận một hợp đồng hợp pháp hay vô hiệu.

Khoản 2 Điều 35 quy định riêng về thỏa thuận bằng văn bản khi định đoạt một số tài sản, gồm bất động sản. Khi xem hợp đồng thuê cụ thể, cần xác định đúng bản chất giao dịch và quy định liên quan; không tự thay bước phân tích đó bằng kết luận mọi việc cho thuê đều giống việc bán nhà. [3]

Thỏa thuận kinh doanh có thể làm thay đổi cách đại diện

Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình có quy định về đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh chung, với các điều kiện và ngoại lệ của điều khoản. Điều 36 quy định khi vợ chồng thỏa thuận một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự thực hiện giao dịch liên quan; thỏa thuận đó phải lập thành văn bản. [3]

Vì vậy, có thể tồn tại căn cứ để một người đứng ra giao dịch mà không cần cả hai trực tiếp đến mỗi lần. Tuy nhiên, không suy rằng người tự giới thiệu đang kinh doanh phòng trọ đương nhiên có đủ căn cứ ấy. Cần xem đúng tài sản, quan hệ kinh doanh, nội dung thỏa thuận và phạm vi được thực hiện.

Nếu tài liệu đã giao quyền quản lý, cho thuê trong một giới hạn nhất định, hợp đồng cần nằm trong giới hạn đó. Thỏa thuận cho thuê ba phòng không tự mở rộng sang bán nhà, thế chấp hoặc cho thuê cả phần gia đình đang sử dụng. Khi phạm vi khó xác định, nên nhờ người có chuyên môn đọc trước khi đặt cọc.

Tài sản riêng vẫn cần xem trường hợp nhà ở duy nhất

Các Điều 43, Điều 44 và Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình cần được đối chiếu khi xác định tài sản riêng, quyền đối với tài sản đó và việc nhập vào tài sản chung. Không chỉ nhìn ngày mua hoặc nghe người giao dịch nói đây là phần của tôi rồi bỏ qua thay đổi đã xảy ra sau đó. [3]

Điều 31 còn quy định về giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng. Điều này yêu cầu sự thỏa thuận của vợ chồng; với nhà thuộc sở hữu riêng của một bên, chủ sở hữu có quyền giao dịch nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng. Cần đọc đủ phần quy định cho trường hợp tài sản riêng, không suy thành mọi nhà riêng đều được xử lý bất kể hoàn cảnh. [3]

Người thuê không cần tự giải quyết quan hệ gia đình của bên cho thuê. Nhưng nếu thấy nhà đang là chỗ ở duy nhất của gia đình và một người phản đối rõ ràng việc giao cả nhà, đó là vấn đề cần làm rõ trước khi giao tiền. Một lời bảo đảm sẽ thu xếp sau không thay cho việc kiểm tra quyền và khả năng bàn giao.

Kiểm tra sở hữu, thỏa thuận quản lý và quyền đại diện

Trước hết, xác định căn nhà và những người có quyền đối với tài sản. Xem giấy tờ, phần diện tích, thông tin chủ thể và những tài liệu làm rõ chế độ sở hữu khi cần. Mục đích là biết ai có quyền quyết định đối với phần đang được đưa ra cho thuê.

Tiếp theo, kiểm tra thỏa thuận quản lý, khai thác hoặc cho thuê. Nếu nhiều người cùng có quyền, cần biết họ đã đồng ý điều gì, giao cho ai và có giới hạn nào. Việc tất cả đều biết căn nhà đang được sửa không tự chứng minh tất cả đã đồng ý cho thuê với giá, thời hạn và phạm vi đang đề nghị.

Sau đó, kiểm tra quyền của người trực tiếp giao dịch. Cần xác định người đó được ký, giao phòng, nhận cọc, nhận tiền tháng, thay đổi giá, chấm dứt hay hoàn cọc đến đâu. Các Điều 138 đến Điều 141 Bộ luật Dân sự là căn cứ về đại diện theo ủy quyền, hậu quả, thời hạn và phạm vi. Không nên chỉ kiểm tra danh tính mà bỏ câu hỏi họ đang nhân danh ai. [1]

Con của chủ nhà giữ chìa khóa chưa chắc được ký thay

Giả sử chị Mai và anh Nam là những người có quyền đối với nhà, còn người con dẫn khách xem và thu tiền vệ sinh chung. Việc người con sinh sống ở đó hoặc thường xuyên hỗ trợ gia đình chưa tự chứng minh quyền ký hợp đồng thuê một năm và nhận cọc. Cần hỏi căn cứ đại diện cho việc đang thực hiện.

Nếu văn bản giao cho người con tiếp nhận báo hỏng và sắp lịch sửa, không nên suy nó bao gồm quyền cho thuê mới. Nếu được nhận tiền thuê nhưng chưa có quyền nhận cọc, cần làm rõ trước khi giao khoản bảo đảm. Cùng một người có thể làm nhiều việc, nhưng từng quyền cần có căn cứ phù hợp.

Đối với trường hợp người được ủy quyền lại giao việc cho người khác, Điều 564 Bộ luật Dân sự có điều kiện và giới hạn riêng về ủy quyền lại. Không mặc định người thứ hai được hưởng mọi quyền chỉ vì cầm bản chụp giấy của người thứ nhất. Nên xác minh đường đại diện đầy đủ, nhất là khi có nhiều người nhận tiền hoặc thay nhau ký. [1]

Một nội dung giao quyền nên chỉ rõ phần được thực hiện

Thay vì ghi quản lý toàn bộ mọi việc, các bên có thể mô tả đúng nhu cầu. Ví dụ minh họa, các chủ sở hữu thống nhất giao cho một người ký hợp đồng cho thuê phòng P01 trong thời hạn và điều kiện đã xác định, bàn giao thiết bị của phòng, nhận tiền thuê và khoản cọc theo hồ sơ, đồng thời thực hiện những công việc được liệt kê.

Cần nói rõ người đó có được thay giá, gia hạn, sửa điều khoản hoặc quyết định hoàn cọc hay phải xin ý kiến tiếp. Nếu việc giao quyền chỉ áp dụng cho P01, không dùng nó để ký cho thuê P02 hoặc toàn bộ nhà. Phần lối đi, sân và thiết bị dùng chung cũng phải phù hợp với quyền đã được thống nhất.

Đây là cách mô tả phạm vi để các bên hiểu nhau, không phải mẫu văn bản bảo đảm phù hợp mọi trường hợp. Nội dung về thời hạn, hình thức, quyền đại diện và công chứng hoặc chứng thực nếu cần phải được kiểm tra theo hồ sơ. Không dùng quy định thuê nhà không bắt buộc công chứng để suy rằng mọi loại giấy ủy quyền đều có thể làm theo cùng một cách.

Tiền thuê nên được thu theo một cơ chế đã xác nhận

Khi có nhiều chủ sở hữu, hợp đồng hoặc tài liệu liên quan nên xác định ai được nhận tiền và khoản thanh toán vào đâu được ghi nhận cho bên cho thuê. Nếu mỗi người có quyền nhận một phần, ghi rõ phần nào, kỳ nào và cách xác nhận. Nếu thống nhất một người nhận toàn bộ, người thuê cần có căn cứ cho cơ chế ấy.

Ví dụ giả định, A và B thống nhất A nhận đủ 6 triệu đồng tiền thuê mỗi tháng. Sau đó A và B phân chia số tiền thuê đã thu theo tỷ lệ nội bộ 60% và 40%, tương ứng 3,6 triệu đồng và 2,4 triệu đồng, chưa xét các chi phí hoặc nghĩa vụ khác. Người thuê đã trả đúng 6 triệu đồng theo cơ chế hợp lệ không vì tỷ lệ nội bộ ấy mà tự phát sinh thêm một khoản phải trả 2,4 triệu đồng cho B.

Nếu B nói chưa nhận được phần tiền, trước hết đối chiếu thỏa thuận nhận tiền và chứng từ thanh toán. Tranh chấp phân chia giữa A và B cần được giải quyết theo quan hệ của họ. Tuy nhiên, nếu A thực tế chưa có quyền nhận thay như đã nói, vấn đề sẽ khác và cần đánh giá chứng cứ; không lấy ví dụ đã có sự thống nhất để bảo đảm mọi lần chuyển tiền cho một chủ sở hữu đều đúng.

Cọc cần có người chịu trách nhiệm xử lý rõ ràng

Giả sử ngoài tiền thuê, người thuê đã giao 6 triệu đồng cọc theo hợp đồng. Khoản này cần được ghi nhận riêng về người nhận, mục đích bảo đảm và điều kiện xử lý. Không tự chia nó như tiền thuê đã thu rồi coi nghĩa vụ với người thuê đã hoàn thành.

Điều 328 Bộ luật Dân sự quy định về đặt cọc. Với nhiều người phía cho thuê, cần xác định ai là bên nhận theo hợp đồng, ai được giữ hoặc hoàn thay và nghĩa vụ được tổ chức thế nào. Không tự suy rằng mỗi đồng sở hữu chỉ chịu đúng một tỷ lệ cọc trong mọi trường hợp, cũng không tự kết luận luôn có trách nhiệm liên đới mà chưa xem căn cứ. [1]

Nếu đổi người quản lý giữa kỳ, hồ sơ bàn giao phải thể hiện số cọc đang ghi nhận, khoản đã xử lý và nghĩa vụ còn lại. Việc A chuyển tiền nội bộ cho B không nên khiến người thuê bị yêu cầu đóng một cọc mới cho cùng khoản bảo đảm đã được ghi nhận. Nếu có thay đổi bên chịu nghĩa vụ, phải làm rõ căn cứ và thỏa thuận phù hợp, không chỉ đổi tên trong sổ thu.

Hai chủ sở hữu đưa hướng dẫn khác nhau thì cần dừng ở phần chưa rõ

Một người yêu cầu trả vào tài khoản A, người khác nhắn trả vào tài khoản B và nói người trước không còn quyền nhận. Đừng chọn theo người nói lớn hơn hoặc theo thói quen mà bỏ qua thông báo mới. Kiểm tra hợp đồng, phạm vi đại diện, việc thay đổi đã có hiệu lực thế nào và người có quyền xác nhận.

Có thể gửi yêu cầu chung qua kênh phù hợp để các bên làm rõ hướng dẫn thanh toán thống nhất. Nêu kỳ đến hạn, số tiền và nội dung mâu thuẫn, giữ lại phản hồi. Không tự trả hai lần cùng một kỳ chỉ để tránh tranh cãi, nhưng cũng không mặc định bất đồng giữa chủ sở hữu cho phép mình ngừng mọi nghĩa vụ vô thời hạn.

Nếu không thể xác định người có quyền nhận trước mốc quan trọng, nên nhờ người có chuyên môn xem hồ sơ và cách thực hiện nghĩa vụ phù hợp. Đừng ký một giấy mới với một phía có nội dung phủ nhận toàn bộ tiền đã trả mà chưa hiểu hậu quả. Một biên bản đối chiếu rõ thường cần thiết hơn một lời hứa miệng rằng sau này sẽ tính lại.

Khi quyền đại diện thay đổi phải kiểm lại cho giao dịch tiếp theo

Giấy ủy quyền có thể hết hạn, công việc đã hoàn thành hoặc quan hệ đại diện chấm dứt theo căn cứ khác. Điều 140 Bộ luật Dân sự quy định về thời hạn và các trường hợp chấm dứt đại diện, trong đó có trường hợp cá nhân liên quan chết. Không nên tiếp tục sử dụng một bản cũ chỉ vì trước đây đã từng nhận tiền theo giấy ấy. [1]

Việc chấm dứt ủy quyền và nghĩa vụ thông báo cho người thứ ba cũng cần đối chiếu, trong đó Điều 569 có quy định và ngoại lệ cụ thể. Không phải mọi thông báo mới nhận đều tự làm toàn bộ giao dịch trước đó mất hiệu lực. Cần xem thời điểm, sự biết hoặc phải biết và căn cứ liên quan. [1]

Nếu một chủ sở hữu qua đời hoặc quyền sở hữu đang được giải quyết, người tiếp tục giao dịch phải chứng minh tư cách phù hợp cho việc cần làm. Quan hệ cha con, anh em hoặc việc giữ giấy tờ không tự xác định toàn bộ quyền thừa kế và quyền cho thuê. Người thuê nên giữ hồ sơ cũ, làm rõ đầu mối mới và tránh giao thêm khoản lớn khi quyền nhận còn bất định.

Đã ký với một người rồi cần kiểm tra trước khi kết luận

Nếu sau khi vào ở mới biết còn người có quyền khác, hãy tập hợp hợp đồng, tài liệu đại diện, việc bàn giao, chứng từ và trao đổi liên quan. Cần xác định bên còn lại đã biết, đồng ý, công nhận hoặc phản đối giao dịch trong hoàn cảnh nào. Không nên tự hủy mọi giấy tờ hoặc ký nhận mình thuê trái phép chỉ vì có thêm người lên tiếng.

Điều 142 và Điều 143 Bộ luật Dân sự quy định hậu quả giao dịch do người không có quyền hoặc vượt phạm vi đại diện, đồng thời có các ngoại lệ. Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình cũng có quy định liên quan tài sản chung chỉ đứng tên một người và trường hợp người thứ ba ngay tình được pháp luật bảo vệ. Việc áp dụng đòi hỏi đánh giá hồ sơ, không phải lời bảo đảm ai trả tiền rồi cũng thắng tranh chấp. [1] [3]

Nếu các bên có quyền thực tế thống nhất tiếp tục cho thuê, có thể xem cách xác nhận, sửa đổi hoặc hoàn thiện hồ sơ phù hợp. Văn bản mới cần ghi đúng thời điểm và nội dung, không ký lùi ngày hoặc tạo giấy ủy quyền giả cho giai đoạn trước. Nếu vẫn bất đồng, nên nhờ tư vấn trước khi xử lý tiền, chấm dứt hoặc bàn giao.

Công chứng không thay việc xác định quyền cho thuê

Điều 163 Luật Nhà ở yêu cầu hợp đồng bằng văn bản với nội dung tương ứng. Điều 164 quy định thuê nhà thuộc trường hợp không phải công chứng, chứng thực trừ khi các bên có nhu cầu. Hai điều này không làm mất yêu cầu về điều kiện chủ thể tại Điều 161 hoặc các quy định về sở hữu, đại diện. [2]

Nếu chọn công chứng, chuẩn bị đầy đủ thông tin về người có quyền, chế độ tài sản và đại diện để được kiểm tra đúng. Không giấu một đồng sở hữu hoặc việc đang tranh chấp rồi kỳ vọng con dấu giải quyết được vấn đề. Nếu không công chứng, vẫn phải có căn cứ cho người ký và lưu hồ sơ đủ để đối chiếu.

Với bên cho thuê, nên thống nhất trước một đầu mối cùng phạm vi được quyết định, cách nhận tiền và quy trình thay đổi. Với người thuê, cần biết hợp đồng đang gắn mình với ai, phần nhà nào và ai có quyền xử lý cọc.

BƯỚC TIẾP THEO

Quản lý nhà trọ với Nhà cấp 4

Theo dõi phòng cho thuê, hợp đồng, hóa đơn và công nợ trong cùng một hệ thống.

Xem tính năng Liên hệ
NGUỒN THAM KHẢO

Nguồn tham khảo

Biên soạn Ban biên tập Nhà cấp 4 · Rà soát nguồn 09/07/2026

Bài viết là hướng dẫn vận hành và tổng hợp nguồn trong phạm vi đã nêu, không thay thế tư vấn pháp lý, thuế hoặc kỹ thuật cho hồ sơ cụ thể.

  1. Nguồn 1 · Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, Bộ luật Dân sự 2015. Đối chiếu các Điều 209, 210, 212, 213, 216, 217, 218 về sở hữu chung; Điều 138 đến Điều 143 về đại diện; Điều 328, Điều 370, Điều 421, Điều 562, Điều 564 và Điều 569. Không suy phần quyền sở hữu thành phần diện tích riêng hoặc bỏ ngoại lệ về đại diện

    Nguồn được dẫn trong bài · Liên kết được dẫn trong nội dung bài viết.

  2. Nguồn 2 · Văn bản hợp nhất 79/VBHN-VPQH năm 2026 về Luật Nhà ở, Điều 161, Điều 163 và Điều 164, đọc trong phạm vi thuê nhà ở thông thường của cá nhân

    Nguồn được dẫn trong bài · Liên kết được dẫn trong nội dung bài viết.

  3. Nguồn 3 · Văn bản hợp nhất 121/VBHN-VPQH ngày 27/8/2025 về Luật Hôn nhân và gia đình, bản Công báo chính thức. Đã đọc Điều 24 đến Điều 26, Điều 31, Điều 33 đến Điều 36, Điều 43, Điều 44, Điều 46 đến Điều 48 và xem các trang liên quan. Giữ phạm vi riêng của tài sản chung, tài sản riêng, nhà ở duy nhất và đại diện trong kinh doanh

    Nguồn được dẫn trong bài · Liên kết được dẫn trong nội dung bài viết.