Trang chủTin tứcHợp đồng và cư trú

Hợp đồng và cư trú

Nội dung cần xác định trong hợp đồng thuê phòng trọ

Hướng dẫn rà soát bên ký, phòng thuê, giá và phí, thời hạn, tiền cọc, sửa chữa và chấm dứt; đối chiếu điều kiện thuê với hồ sơ cụ thể.

Ảnh minh họa: Nội dung cần xác định trong hợp đồng thuê phòng trọNội dung cần xác định trong hợp đồng thuê phòng trọ
21 phút đọcCập nhật 12/10/2026Ban biên tập Nhà cấp 4

Hai bên đã thống nhất tiền phòng nhưng còn khác cách hiểu về máy giặt dùng chung và việc sửa điều hòa. Khi đọc hợp đồng, đưa những điểm vừa trao đổi vào đúng điều khoản, thay vì chỉ điền tên rồi ký mẫu. Căn phòng được giao, khoản phải trả và cách xử lý việc phát sinh cần được mô tả đủ để người quản lý khác cũng hiểu khi tiếp nhận hồ sơ.

Nhiều tranh chấp bắt đầu từ những câu tưởng như đã rõ. “Phí dịch vụ theo thực tế” nhưng không biết tính theo phòng hay theo người. “Trả phòng báo trước một tháng” nhưng không nói có được chấm dứt trước hạn hay không. “Hư gì người thuê sửa” nhưng thiếu hiện trạng lúc bàn giao. Khi phải sử dụng hợp đồng để giải quyết, mỗi bên mới nhận ra mình hiểu một cách.

Các điểm chính trong bàiNội dung cần xem
  1. Bắt đầu từ giao dịch thật rồi mới chọn mẫuĐiều 163 Luật Nhà ở quy định hợp đồng về nhà ở được lập thành văn bản và nêu các nhóm nội dung như các bên tham gia, đặc điểm nhà ở, giá, thanh toán, giao nhận, thời hạn, quyền nghĩa vụ, cam kết, hiệu lực và…
  2. Ghi đúng người có quyền ký và người sẽ sử dụngHợp đồng cần nhận diện các bên đủ để không nhầm người, đồng thời ghi rõ tư cách của người ký. Nếu người ký thay chủ sở hữu, cần làm rõ căn cứ đại diện và phạm vi được thực hiện. Việc trực tiếp dẫn khách xem…
  3. Nhận diện phần diện tích và đồ được giaoCùng địa chỉ có nhiều phòng giống nhau, còn ảnh có đồ của người trước. Hợp đồng cần gắn với căn cùng danh mục thực tế, không chỉ tên tòa nhà.
  4. Mô tả căn phòng cùng phần được dùng chungĐịa chỉ tòa nhà chưa chắc đủ để nhận diện đối tượng thuê nếu nơi đó có nhiều phòng giống nhau. Ghi mã phòng, tầng, vị trí hoặc dấu hiệu nhận diện ổn định. Khi tên địa bàn hoặc số phòng nội bộ thay đổi, cần c…

Tóm lược các đoạn trong bài. Mở từng mục để đọc căn cứ, điều kiện và cách xử lý đầy đủ.

Bài viết tập trung vào thuê phòng để ở giữa cá nhân trong các tình huống thông thường. Giao dịch của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, nhà ở xã hội, tài sản chung, cho thuê lại hoặc trường hợp có yếu tố nước ngoài có thể cần đối chiếu thêm quy định riêng. Các câu điều khoản minh họa dưới đây chỉ giúp nhận ra việc cần thỏa thuận, chưa phải một hợp đồng đã được tư vấn cho hồ sơ cụ thể.

Bắt đầu từ giao dịch thật rồi mới chọn mẫu

Điều 163 Luật Nhà ở quy định hợp đồng về nhà ở được lập thành văn bản và nêu các nhóm nội dung như các bên tham gia, đặc điểm nhà ở, giá, thanh toán, giao nhận, thời hạn, quyền nghĩa vụ, cam kết, hiệu lực và chữ ký. Danh sách này giúp kiểm tra độ đầy đủ, nhưng không thay việc mô tả chính xác căn phòng và cách thuê của hai bên. [1]

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ có đăng mẫu thuê nhà ở theo Nghị định 96/2024/NĐ-CP, văn bản hướng dẫn Luật Kinh doanh bất động sản. Trang mẫu có các trường về hồ sơ dự án, đăng ký doanh nghiệp và quyền nghĩa vụ theo luật này. Vì vậy, thấy mẫu nằm trên nguồn chính thức chưa đủ để kết luận toàn bộ mẫu đó bắt buộc áp cho mọi giao dịch thuê phòng giữa cá nhân; phải xác định giao dịch có thuộc phạm vi tương ứng trước. [3]

Mẫu thuê nguyên căn hoặc mua bán có thể chứa điều khoản không phù hợp với việc thuê một phòng. Bỏ nội dung không áp dụng để tránh tạo nghĩa vụ mà hai bên không định nhận.

Trước khi điền mẫu, tóm tắt bên cho thuê, người ký và người ở, phòng, thời hạn, tài sản, khoản thu và điều còn cần thống nhất. Nếu phần nào vẫn là “sẽ nói sau”, chưa coi điều khoản đó đã được chốt.

Ghi đúng người có quyền ký và người sẽ sử dụng

Hợp đồng cần nhận diện các bên đủ để không nhầm người, đồng thời ghi rõ tư cách của người ký. Nếu người ký thay chủ sở hữu, cần làm rõ căn cứ đại diện và phạm vi được thực hiện. Việc trực tiếp dẫn khách xem phòng hoặc thu tiền các tháng trước chưa tự giải thích người đó có quyền ký hợp đồng mới đến đâu.

Với tài sản có nhiều người cùng có quyền, không nên suy rằng chỉ một chữ ký luôn đủ hoặc luôn thiếu. Phải xem chế độ sở hữu, thỏa thuận và việc đại diện trong hồ sơ cụ thể. Đây là phần nên được kiểm tra trước khi giao tiền, vì một hợp đồng mô tả căn phòng rất chi tiết vẫn có thể gặp vấn đề nếu bên ký không có quyền phù hợp.

Người ký thuê và người ở thực tế cũng cần được phân biệt. Trong một nhóm ba người, chỉ một người đứng tên có thể làm phát sinh quan hệ khác với cả ba cùng là bên thuê. Hợp đồng và phụ lục nên nói rõ ai là bên có nghĩa vụ với chủ nhà, ai được ở, cách thêm hoặc thay người. Thỏa thuận chia tiền giữa các bạn không tự làm thay đổi nghĩa vụ đối với chủ nhà.

Thông tin liên hệ để gửi thông báo nên được ghi và có cách cập nhật. Nếu sau này đổi số điện thoại, người thuê hoặc chủ nhà cần biết phải báo qua đâu. Không nên yêu cầu nhiều dữ liệu riêng tư chỉ để làm hồ sơ trông đầy đủ. Những dữ liệu được thu cần có mục đích phù hợp và được lưu, sử dụng đúng phạm vi.

Người thuê và chủ nhà cùng đọc hợp đồng trước khi ký và bàn giao chìa khóa.
Hình minh họa

Kiểm tra đúng người có quyền cho thuê, căn phòng, thời hạn và khoản tiền trước khi ký.

Nhận diện phần diện tích và đồ được giao

Cùng địa chỉ có nhiều phòng giống nhau, còn ảnh có đồ của người trước. Hợp đồng cần gắn với căn cùng danh mục thực tế, không chỉ tên tòa nhà.

Đối chiếu ngày nhận và ngày bắt đầu tính tiền. Hạng mục còn chờ được ghi với cách kiểm; một mẫu nhiều trang vẫn có thể bỏ phần hai bên đang hiểu khác.

Mô tả căn phòng cùng phần được dùng chung

Địa chỉ tòa nhà chưa chắc đủ để nhận diện đối tượng thuê nếu nơi đó có nhiều phòng giống nhau. Ghi mã phòng, tầng, vị trí hoặc dấu hiệu nhận diện ổn định. Khi tên địa bàn hoặc số phòng nội bộ thay đổi, cần có cách nối thông tin cũ với thông tin mới, tránh tạo cảm giác hai căn khác nhau trong các chứng từ.

Phần được sử dụng nên được mô tả theo thực tế. Nhà vệ sinh riêng hay chung, bếp trong phòng hay ở khu chung, sân phơi, chỗ để xe, lối ra vào và các thiết bị dùng chung đều cần làm rõ. Một lời quảng cáo “đầy đủ tiện ích” khó dùng để quyết toán khi người thuê cho rằng đã bao gồm chỗ để hai xe còn chủ nhà chỉ cho một xe.

Nếu có nội thất, lập danh mục bàn giao đi cùng hợp đồng. Ghi tên món, số lượng, tình trạng và đặc điểm cần nhớ, không chỉ một dòng “nội thất đầy đủ”. Ảnh minh họa nên gắn với ngày bàn giao và danh mục đó. Đừng thay việc kiểm tra một thiết bị cũ bằng việc ghi giá mua mới của thiết bị tương tự.

Những hạng mục sẽ sửa trước nhận phòng cần được tách riêng. Có thể ghi rõ vòi nước nào cần thay, cửa nào cần chỉnh, ai thực hiện, ngày kiểm tra lại và cách xử lý nếu chưa xong. Không nên để điều khoản giao phòng nói đã hoàn thiện toàn bộ trong khi hai bên vẫn đang chờ một công việc ảnh hưởng khả năng sử dụng.

Ghi riêng ngày ký, ngày giao và ngày tính tiền

Ba mốc này có thể trùng nhau nhưng không bắt buộc phải trùng. Bạn có thể ký trước ngày nhận chìa khóa, nhận phòng để chuyển đồ trước ngày bắt đầu ở hoặc được miễn một khoảng tiền thuê đầu kỳ theo thỏa thuận. Nếu chỉ ghi “thuê từ tháng 11”, hai bên dễ hiểu khác nhau về ngày nào bắt đầu phát sinh nghĩa vụ trả tiền.

Hãy ghi ngày bắt đầu và ngày kết thúc bằng ngày tháng năm cụ thể. Nếu kỳ thu chạy từ ngày 10 tháng này đến ngày 9 tháng sau, cần nêu rõ thay vì mặc định mọi kỳ là tháng dương lịch. Khi tháng đầu hoặc tháng cuối không đủ kỳ, hai bên cần thống nhất cách tính phù hợp; không tự lấy chia 30 như một công thức pháp luật chung.

Ví dụ giả định, hợp đồng ký ngày 20/10, giao phòng ngày 28/10 và bắt đầu tính tiền từ 01/11. Ba mốc này có thể được ghi riêng để tránh hiểu nhầm ngày bắt đầu nghĩa vụ trả tiền. Nếu người thuê sử dụng điện nước từ lúc nhận phòng, thỏa thuận cũng nên nói kỳ ghi chỉ số bắt đầu khi nào. Nhờ vậy, tháng đầu không trở thành một cuộc tranh luận về từ “nhận phòng”.

Trường hợp dự tính tự gia hạn, cần mô tả cơ chế đó bằng điều kiện và thời điểm cụ thể. Nếu không định tự gia hạn, nói rõ cách hai bên trao đổi trước khi hết hạn. Việc tiếp tục ở, tiếp tục nhận tiền và ký phụ lục có thể tạo ra các vấn đề cần đánh giá riêng; đừng để câu “hết hạn tính sau” thay cho phương án mà cả hai đều hiểu.

Ghi giá thuê và từng khoản thu

Giá thuê cần đi cùng đơn vị tính và khoảng thời gian áp dụng. Sau đó mới đến điện, nước, Internet, giữ xe và các dịch vụ khác. Với mỗi khoản, cần biết có bắt buộc không, tính theo phòng, theo người hay theo sử dụng, kỳ tính và chứng từ dùng để đối chiếu.

Không nên gộp tất cả thành một câu “người thuê thanh toán mọi chi phí phát sinh”. Câu này không cho biết chi phí nào đã có trong giá phòng, ai quyết định thêm một khoản thu hoặc xử lý thế nào khi một dịch vụ không còn được cung cấp. Ghi thành từng khoản giúp cả chủ nhà lẫn người thuê kiểm tra hóa đơn mà không phải diễn giải lại lời nói ban đầu.

Với khoản chịu quy định chuyên ngành như tiền điện, thỏa thuận vẫn phải được đối chiếu đúng trường hợp và quy định áp dụng. Việc người thuê ký vào một con số không tự thay việc kiểm tra tính hợp pháp của cách thu. Hợp đồng nên giúp xác định căn cứ tính và cách công khai số liệu, thay vì chỉ giữ một mức giá từ mẫu cũ không rõ nguồn.

Nếu có cơ chế điều chỉnh giá, ghi điều kiện được điều chỉnh, cách trao đổi và thời điểm áp dụng. Phân biệt mức tăng đã được xác định trong hợp đồng với đề xuất mới phải thỏa thuận sau này. Một thông báo có ngày gửi rõ vẫn chưa giải quyết hết câu hỏi bên gửi có quyền thay đổi khoản tiền đó hay không.

Ghi kỳ thanh toán và cách xác nhận đã trả

Điều khoản thanh toán cần nêu kỳ trả, hạn, cách trả và người có quyền nhận. Nếu dùng chuyển khoản, ghi tài khoản phù hợp và cách thông báo khi thay đổi. Khi nhận tin đổi tài khoản, xác minh qua đầu mối đã biết trước khi chuyển tiền.

Nếu thu tiền mặt, hai bên nên có biên nhận hoặc cách ghi nhận đối chiếu được. Nội dung cần nối khoản tiền với phòng, hợp đồng và kỳ thanh toán. Một chữ “đã nhận” trong nhóm chat có thể khiến người đọc sau này không biết đó là tiền thuê, tiền cọc hay tiền sửa một món đồ.

Ví dụ giả định, kỳ tháng 11 phải trả 3,2 triệu đồng nhưng người thuê chuyển trước 2 triệu rồi bổ sung 1,2 triệu sau. Sổ theo dõi cần thể hiện hai khoản đều thuộc kỳ đó. Nếu khoản 2 triệu thực ra là thanh toán nợ tháng trước, số còn phải trả tháng 11 sẽ khác. Hợp đồng không cần mô tả mọi tình huống sổ sách, nhưng quy tắc ghi nhận giúp tránh đánh dấu đã trả nhầm kỳ.

Với chậm thanh toán, nên ghi cách thông báo và cơ chế xử lý phù hợp pháp luật. Tách tiền gốc, lãi chậm trả nếu có căn cứ, phạt vi phạm nếu có thỏa thuận hợp lệ và thiệt hại cần chứng minh. Không cộng tất cả thành một khoản phạt mỗi ngày do một bên tự đặt sau khi sự việc đã xảy ra. [2]

Tiền cọc phải được mô tả theo mục đích

Điều 328 Bộ luật Dân sự gắn đặt cọc với việc bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Vì vậy, hợp đồng nên nói khoản cọc đang bảo đảm điều gì, đã nhận khi nào, có được chuyển từ khoản giữ phòng trước đó không và xử lý ở những trường hợp nào. Chỉ ghi “cọc một tháng” chưa trả lời được các câu hỏi này. [2]

Tiền thuê trả trước và tiền cọc cần được tách trong hồ sơ. Nếu người thuê chuyển một khoản tổng, nên ghi rõ từng phần. Ví dụ giả định, 6 triệu đồng gồm 3 triệu tiền thuê tháng đầu và 3 triệu tiền cọc. Việc tách này giúp tránh hiểu rằng cả 6 triệu đều được hoàn khi trả phòng hoặc đều là tiền thuê đã thu.

Điều kiện hoàn cọc cần đi cùng thời điểm đối chiếu và cách xử lý khoản chưa chốt. Chẳng hạn, hóa đơn điện nước cuối kỳ có thể đến sau ngày giao chìa khóa. Hai bên cần biết phần nào đã đồng ý, phần nào còn chờ, căn cứ xác định số cuối và cách trả phần còn lại. Không nên viết một điều khoản cho phép giữ cọc vô thời hạn chỉ vì còn một thông tin chưa xác minh.

Nếu dự định khấu trừ thiệt hại, cần có cơ chế đối chiếu hiện trạng, nguyên nhân và chi phí phù hợp. Không tự đồng nhất hao mòn do sử dụng bình thường với hư hỏng phải bồi thường. Điều 482 Bộ luật Dân sự phân biệt hao mòn tự nhiên trong nghĩa vụ trả lại tài sản thuê, nên câu “trả như mới” cần được đọc thận trọng trong hoàn cảnh thực tế. [2]

Sửa chữa phải rõ ai báo ai quyết định ai trả

Điều khoản “bên thuê tự sửa mọi hư hỏng” dễ đẩy tranh chấp đến lúc thiết bị ngừng hoạt động. Cần tách việc sử dụng, bảo quản, sửa chữa nhỏ, bảo trì hệ thống và thiệt hại do lỗi gây ra. Bộ luật Dân sự có các quy định về giao tài sản, bảo đảm giá trị sử dụng, bảo quản và sử dụng đúng mục đích; áp dụng vào một hư hỏng cụ thể vẫn cần xem hợp đồng cùng nguyên nhân. [2]

Có thể viết phần thực hành theo luồng báo hỏng, ghi nhận, thống nhất người kiểm tra và phê duyệt phạm vi sửa. Nếu sự cố liên quan điện, kết cấu hoặc an toàn cháy, không biến điều khoản thông báo thành yêu cầu người thuê phải tự sửa trước. Cần ưu tiên an toàn và để người có chuyên môn thực hiện công việc phù hợp.

Ví dụ giả định, máy lạnh đang dùng bỗng không chạy. Việc nó hỏng trong thời gian thuê chưa đủ chứng minh người thuê làm hỏng. Trước khi quyết toán, cần xem tình trạng lúc giao, lịch bảo dưỡng, kết quả kiểm tra và việc sử dụng. Ngược lại, một hư hỏng có bằng chứng do sử dụng sai cũng không nên được gọi chung là thiết bị đã cũ để bỏ qua trách nhiệm.

Cách vào phòng để sửa cũng nên được thỏa thuận. Ai hẹn, thời gian nào, có người thuê hoặc người được họ đồng ý chứng kiến không, và xử lý trường hợp khẩn cấp ra sao. Ghi rõ những việc này giúp công việc diễn ra được mà vẫn tôn trọng không gian đang được giao cho người thuê sử dụng.

Ghi nội quy cùng hợp đồng

Nếu áp dụng nội quy, hãy đưa đúng phiên bản cho người thuê đọc trước khi ký và ghi cách nó liên hệ với hợp đồng. Đừng để hợp đồng dẫn đến “nội quy hiện hành” nhưng người thuê không có bản đã được áp dụng lúc giao kết, còn người quản lý có thể sửa bất kỳ nội dung nào mà không trao đổi.

Nội quy nên xử lý các việc có thật như vệ sinh, tiếng ồn, nơi để xe, khách thăm, khu nấu ăn, phơi đồ và sử dụng thiết bị chung. Những điều kiện quan trọng với quyền sử dụng hoặc khoản tiền phải trả cần rõ ràng. Cách diễn đạt càng cụ thể thì người ở càng dễ tuân thủ và người quản lý càng ít phải giải thích theo cảm tính.

Không nên coi nội quy là nơi có thể bổ sung quyền giữ giấy tờ, tự lấy tài sản, khóa người trong phòng hoặc công khai thông tin riêng để gây áp lực. Khi một biện pháp ảnh hưởng quyền của người khác, phải kiểm tra căn cứ pháp luật và phạm vi thỏa thuận hợp lệ. Chữ ký vào bản nội quy không làm mọi biện pháp người soạn nghĩ ra trở thành phù hợp.

Tách báo trước với quyền chấm dứt sớm

“Báo trước 30 ngày” thường bị hiểu thành cứ báo đủ ngày thì được rời đi và nhận đủ cọc. Nhưng thời hạn thông báo và căn cứ chấm dứt là hai câu hỏi khác nhau. Phải xem hợp đồng có cho phép kết thúc sớm theo điều kiện nào, hai bên có thỏa thuận chấm dứt mới hay có căn cứ pháp luật áp dụng không.

Điều 172 Luật Nhà ở quy định các trường hợp đơn phương chấm dứt từ phía cho thuê và phía thuê, cùng yêu cầu thông báo. Khi viện dẫn một trường hợp, cần đọc cả điều kiện của nó, không chỉ lấy cụm “được chấm dứt”. Ví dụ, căn cứ liên quan không trả đủ tiền thuê có điều kiện về thời gian và lý do đã được thỏa thuận, chứ không đồng nhất với mọi khoản phí chưa thanh toán. [1]

Hợp đồng nên làm rõ việc gửi thông báo qua đâu, ai nhận, cần ghi điều gì và lịch bàn giao dự kiến. Nếu hai bên thương lượng kết thúc sớm, cần có nội dung thống nhất riêng về ngày dừng, các khoản tiền, cọc, tài sản và nghĩa vụ còn lại. Việc đã giao chìa khóa không tự giải thích toàn bộ phần tiền đã được xử lý.

Ba đoạn minh họa để kiểm tra điều còn mơ hồ

Những đoạn sau dùng dữ liệu giả định và chỗ trống để hai bên thảo luận. Chúng không tạo ra thời hạn pháp luật chung, không thay một bản hợp đồng đầy đủ và cần được rà lại theo hồ sơ trước khi sử dụng.

Về các mốc thời gian, có thể trình bày theo hướng “Hợp đồng ký ngày 20/10/2026. Bên cho thuê bàn giao phòng cùng chìa khóa ngày 28/10/2026. Tiền thuê bắt đầu tính từ ngày 01/11/2026. Chỉ số điện nước được hai bên ghi nhận tại thời điểm bàn giao; phần sử dụng từ ngày bàn giao được tính theo phương pháp tại phụ lục về điện nước.” Điểm cần hiểu là từng mốc có một mục đích và phụ lục được nhắc phải thật sự tồn tại. Nếu việc sử dụng trước tháng 11 được miễn cả điện nước, câu cuối phải sửa cho đúng thỏa thuận đó.

Về thời hạn đối chiếu, giả định hợp đồng dự kiến trả phòng ngày 30/4/2027 và hai bên muốn chủ động chốt lịch ngay lúc ký. Đoạn thảo luận có thể viết như sau. “Hai bên đối chiếu hiện trạng, chỉ số và khoản cọc vào ngày bàn giao lại phòng. Phần cọc không có tranh chấp được hoàn chậm nhất ngày 5/5/2027. Nếu còn khoản điện nước cuối kỳ chưa đủ dữ liệu, biên bản ghi rõ khoản đang chờ, căn cứ dự tính và tài liệu còn thiếu; hai bên đối chiếu lại ngày 12/5/2027. Mọi thay đổi lịch hoặc khoản tiếp tục chờ phải được hai bên xác nhận.” Đây là các ngày do ví dụ tự đặt để thương lượng, không phải thời hạn luật định. Trước khi dùng, cần quy định rõ cả cách xử lý nếu đến ngày đối chiếu vẫn chưa có hóa đơn, thay vì biến lịch hẹn thứ hai thành quyền giữ tiền không giới hạn.

Điểm đáng kiểm tra trong đoạn trên là sự phân biệt giữa ngày giao lại phòng, ngày hoàn phần đã rõ và ngày xử lý dữ liệu còn thiếu. Nếu điện nước được chốt ngay từ đồng hồ và đơn giá đã thống nhất thì không cần giữ lý do chờ hóa đơn không có thật. Nếu khoản sửa đang tranh chấp, không nhập nó thành điện nước còn chờ để né việc giải thích căn cứ.

Về sửa chữa, có thể dùng một khung như “Người thuê báo dấu hiệu hư hỏng qua đầu mối đã ghi trong hợp đồng. Hai bên ghi nhận hiện trạng, thống nhất người kiểm tra và xác định trách nhiệm chi phí theo nguyên nhân, hợp đồng và quy định áp dụng. Công việc liên quan điện, kết cấu và an toàn cháy được thực hiện bởi người có chuyên môn phù hợp.” Khung này cần bổ sung cách xử lý khẩn cấp của chính cơ sở. Nó không yêu cầu người thuê tự sửa để chứng minh đã báo hỏng, cũng không ấn định chủ nhà luôn phải trả mọi khoản.

Đọc các ví dụ cùng toàn bộ hợp đồng. Nếu phụ lục và điều khoản chính mâu thuẫn, sửa cho thống nhất trước khi ký.

Thử hợp đồng bằng một tình huống hoàn chỉnh

Giả sử phòng A thuê từ 01/11/2026 đến 30/4/2027, giá 3 triệu đồng mỗi tháng, cọc 3 triệu, được ở hai người và có một xe. Ngày ký là 20/10, ngày bàn giao là 28/10. Hợp đồng có phụ lục thiết bị và các khoản thu. Đây là hồ sơ giả định để kiểm tra khả năng sử dụng văn bản, không phải một hợp đồng chuẩn đã đủ điều kiện ký.

Phép thử thứ nhất diễn ra ở ngày bàn giao. Cửa nhà vệ sinh chưa sửa xong dù đã được ghi trong danh mục phải hoàn thành. Nếu hợp đồng chỉ viết giao phòng đúng ngày, người thực hiện vẫn chưa biết phải lập biên bản thế nào và tiền thuê có bắt đầu như cũ không. Điều cần bổ sung là cách ghi nhận hạng mục chưa đạt, người xử lý, mốc kiểm tra lại và phương án hai bên chấp nhận khi việc đó ảnh hưởng sử dụng. Không nên ký biên bản đã nhận đủ mọi thứ rồi chỉ giữ lời hứa sẽ sửa trong cuộc gọi.

Phép thử thứ hai là tháng 12 có đề nghị thêm một người và một xe. Văn bản phải giúp trả lời có được tăng số người không, ai đồng ý, thời điểm áp dụng và khoản phí nào thay đổi theo đơn vị đã quy định. Nếu phụ lục chỉ ghi phí dịch vụ 200.000 đồng mỗi phòng, không thể tự đọc thành 200.000 đồng mỗi người. Nếu mức tăng chưa được thỏa thuận, cần thống nhất trước khi đưa vào kỳ thu; đừng chỉ sửa một con số trong bảng quản lý.

Phép thử thứ ba là người thuê muốn chuyển đi ngày 31/1/2027. Đọc điều kiện kết thúc sớm, căn cứ pháp luật, hình thức báo và phần cọc cùng nhau. Nếu hợp đồng chỉ có thời hạn sáu tháng và câu báo trước một tháng, chưa thể kết luận cứ báo trước là được hoàn đủ cọc hay cứ đi sớm là mất tất cả. Hai bên cần làm rõ quyền chấm dứt và hệ quả, hoặc ký thỏa thuận kết thúc riêng nếu cùng đồng ý. Thỏa thuận đó phải giải quyết được tiền thuê đến đâu, ngày giao chìa khóa và khoản nào còn chờ.

Phép thử cuối là sau khi trả phòng, người quản lý không phải người ký ban đầu được giao hoàn cọc. Chỉ dựa vào hồ sơ, họ có tìm được cọc đang giữ, các lần đã đối trừ, khoản đã chốt, khoản tranh chấp và tài khoản được xác nhận không. Nếu phải hỏi miệng người cũ để biết mọi con số, cần sửa cách lưu phụ lục và chứng từ.

Kiểm bản cuối và lưu hồ sơ

Trước ký, kiểm tra mọi ô trống, số tiền, ngày tháng, thông tin căn phòng, phụ lục và nội quy được dẫn. Các sửa đổi phải xuất hiện trong bản cuối mà cả hai bên giữ. Nếu có nhiều tệp qua lại, đặt tên phiên bản và xác nhận rõ bản được ký, tránh để một bên lưu bản trước sửa.

Khoản 2 Điều 164 Luật Nhà ở quy định việc thuê nhà ở không bắt buộc công chứng, chứng thực, trừ trường hợp các bên có nhu cầu. Điều này không có nghĩa hợp đồng không cần văn bản, không cần đúng người ký hoặc mọi nội dung đều hợp lệ. Công chứng tự nguyện cũng không thay việc kiểm tra hiện trạng và mô tả đầy đủ các cam kết. [1]

Hồ sơ nên đi cùng nhau gồm hợp đồng cuối, phụ lục, căn cứ đại diện nếu có, biên bản bàn giao, danh mục tài sản, chỉ số điện nước và chứng từ nhận tiền. Giữ đủ để kiểm tra đúng việc, đồng thời bảo vệ dữ liệu cá nhân của hai bên.

BƯỚC TIẾP THEO

Quản lý nhà trọ với Nhà cấp 4

Theo dõi phòng cho thuê, hợp đồng, hóa đơn và công nợ trong cùng một hệ thống.

Xem tính năng Liên hệ
NGUỒN THAM KHẢO

Nguồn tham khảo

Biên soạn Ban biên tập Nhà cấp 4 · Rà soát nguồn 25/07/2026

Bài viết là hướng dẫn vận hành và tổng hợp nguồn trong phạm vi đã nêu, không thay thế tư vấn pháp lý, thuế hoặc kỹ thuật cho hồ sơ cụ thể.

  1. Nguồn 1 · Luật Nhà ở 27/2023/QH15, đặc biệt Điều 160 đến 164 và Điều 170 đến 173, bản toàn văn trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật. Nội dung điều khoản đã được đối chiếu với bản đăng lại của Văn bản hợp nhất 79/VBHN-VPQH năm 2026; trang công báo xác nhận văn bản hợp nhất ban hành 26/03/2026

    Nguồn được dẫn trong bài · Liên kết được dẫn trong nội dung bài viết.

  2. Nguồn 2 · Bộ luật Dân sự 91/2015/QH13, Điều 328, 357, 468 và nhóm Điều 472 đến 482, bản toàn văn trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật

    Nguồn được dẫn trong bài · Liên kết được dẫn trong nội dung bài viết.

  3. Nguồn 3 · Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, mẫu hợp đồng thuê nhà ở theo Nghị định 96/2024/NĐ-CP, ngày 27/08/2024. Dùng để nhận diện nguồn và phạm vi mẫu, không coi là mẫu bắt buộc chung cho mọi phòng trọ

    Nguồn được dẫn trong bài · Liên kết được dẫn trong nội dung bài viết.